Khoa học và công nghệ ngành tài nguyên và môi trường 15 năm xây dựng và phát triển

Thứ sáu, 10/07/2020 18:38 GMT+7
Vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã được thể hiện trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước và được triển khai cụ thể trong tất cả các ngành, các lĩnh vực. Trong thời gian qua, ngành tài nguyên và môi trường đã triển khai nhiều chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, qua đó đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho việc xây dựng, ban hành các chủ trương, cơ chế, chính sách, pháp luật về tài nguyên và môi trường; góp phần vào tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững đất nước.
 
Nhìn lại 15 năm xây dựng và phát triển, hoạt động khoa học và công nghệ của ngành tài nguyên và môi trường đã ghi nhận nhiều kết quả quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật quản lý về tài nguyên và môi trường theo hướng ngày càng phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn của cuộc sống. Nhiều kết quả nghiên khoa học và công nghệ đã đóng góp thiết thực cho việc nâng cao chất lượng công tác điều tra cơ bản, đề xuất biện pháp quản lý, bảo vệ, sử dụng tiết kiệm, hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, dự báo, cảnh báo, đề xuất biện pháp phòng tránh thiên tai để bảo đảm an toàn cho cộng đồng xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
 
 
Hội nghị Tổng kết Chương trình khoa học và công nghệ cấp Quốc gia KHCN-BĐKH/11-15 và KHCN-33/11-15 tháng 5/2016
 
 
Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường 
 
Công tác nghiên cứu khoa học thời gian qua đã luôn bám sát định hướng nghiên cứu khoa học nhăm thực hiện tốt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ; các định hướng phát triển trong các Nghị quyết và Chương trình hành động của Trung ương và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, kết quả đã cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường. Tiêu biểu phải kể đến hệ thống Luật và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành như: Luật đa dạng sinh học (2008); Luật khoáng sản (2010); Luật tài nguyên nước (2012); Luật đất đai (2013); Luật bảo vệ môi trường (2014); Luật khí tượng thủy văn (2015); Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015) và Dự thảo Luật Đo đạc Bản đồ. Bên cạnh đó, Ngành cũng đã tập trung nguồn lực cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quan trọng của Ngành như: Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020; Chiến lược phát triển ngành khí tượng thủy văn đến năm 2020; Chiến lược phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đến năm 2020; Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ  biển ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030,…
 
 
Nâng cao chất lượng công tác điều tra cơ bản, đề xuất biện pháp quản lý, bảo vệ, sử dụng tiết kiệm, hợp lý tài nguyên thiên nhiên 
 
Kết quả nghiên cứu khoa học trong thời gian qua đã cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ có hiệu quả cho công tác điều tra cơ bản; sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Các kết quả nổi bật phải kể đến như đối với đất đai, các nghiên cứu đã cung cấp cở sở khoa học cho việc xây dựng các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đai trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần hoàn thiện và phát triển thị trường bất động sản,… 
 
Đối với tài nguyên nước, đã xác lập được luận cứ khoa học để xác định hệ thống chỉ tiêu và trình tự xác định ngưỡng giới hạn khai thác đối với dòng chính phục vụ khai thác, sử dụng và bảo vệ bền vững tài nguyên nước lưu vực sông trên lãnh thổ Việt Nam; tính toán cân bằng nước dưới đất bằng phương pháp mô hình số, dự báo động thái nước dưới đất cho các vùng trên lãnh thổ Việt Nam; phục vụ việc xây dựng các quy trình vận hành liên hồ chứa,…
 
Đối với điều tra, đánh giá tài nguyên khoáng sản, đã góp phần hoàn thiện quy trình công nghệ phục vụ điều tra đánh giá khoáng sản; đề xuất công nghệ điều tra, tìm kiếm, thăm dò các loại khoáng sản ẩn sâu;… Việc lồng ghép các nguyên tắc quản lý tổng hợp đới bờ vào việc lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển; xác định ranh giới và phân cấp quản lý biển và hải đảo; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác điều tra cơ bản; xác lập cơ sở khoa học để thành lập bản đồ địa chất biển Đông tỷ lệ 1/1.000.000 phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đảm bảo an ninh quốc phòng;…
 
Ngoài ra, việc nghiên cứu ứng dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu của Ngành, điền hình như: Xây dựng mạng lưới GPS các cấp hạng trong Hệ tọa độ động học để phát triển Hệ tọa độ động quốc gia gắn liền với Khung quy chiếu Quả đất quốc tế ITRF; ứng dụng công nghệ GPS để xác định chuyển dịch vỏ Trái đất, theo dõi trạng thái của tầng điện ly và tầng đối lưu; cung cấp cơ sở khoa học phục vụ đo địa hình đáy biển. Thiết lập hệ thống giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường tại Việt Nam bằng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý; thúc đẩy ứng dụng nguồn dữ liệu thu nhận tại Trạm thu ảnh vệ tinh vào công tác giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường tại Việt Nam như: kiểm kê đất; kiểm kê rừng; giám sát hiện trạng sử dụng, khai thác tài nguyên nước ngoài biên giới; giám sát các hiện tượng tai biến thiên nhiên, sự cố môi trường trên đất liền và trên biển, như sự cố tràn dầu, lũ lụt, sạt lở đất, hoang mạc hóa, xói lở đường bờ biển. Cung cấp các luận cứ khoa học ứng dụng công nghệ bay chụp ảnh số và bay quét Lidar để thành lập mô hình số độ cao; công nghệ ảnh vệ tinh độ phân giải siêu cao Quickbird để thành lập bản đồ địa hình cơ sở tỷ lệ lớn; công nghệ thành lập bản đồ 3D; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia; tích hợp công nghệ viễn thám (RS), GIS và GPS và 3S trong giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường; từng bước đưa công nghệ 3S thành công nghệ chủ đạo trong việc thành lập và hiện chỉnh bản đồ địa hình quốc gia, kiểm kê đất đai, kiểm kê rừng, giám sát quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, giám sát tài nguyên nước, giám sát biển và hải đảo, giám sát thiên tai, sự cố môi trường và giám sát nước biển dâng do biến đổi khí hậu. 
 
 
Bộ trưởng Trần Hồng Hà phát biểu tại Hội nghị Tổng kết Chương trình khoa học và công nghệ cấp Quốc gia KHCN-BĐKH/11-15 và KHCN-33/11-15
 
 
Bảo vệ môi trường, dự báo, cảnh báo, đề xuất biện pháp phòng tránh thiên tai để bảo đảm an toàn cho cộng đồng xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
 
Các nghiên cứu khoa học thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện phương pháp luận trong điều tra đánh giá địa chất môi trường, tai biến địa chất; phòng tránh, khắc phục và giảm thiểu tác hại do tai biến địa chất gây ra phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững; chú trọng nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu về địa chất và khoáng sản.
 
Một số kỹ thuật, công nghệ và mô hình tính toán mới trong dự báo, đánh giá ô nhiễm môi trường và giám sát môi trường như công nghệ viễn thám, công nghệ ảnh vệ tinh, quan trắc khí theo công nghệ Telemonitoring, phương pháp luận xây dựng hệ số phát thải từ phương tiện giao thông cơ giới đường bộ điển hình cho giao thông đô thị tại Việt Nam đã được nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm đạt kết quả; xây dựng được bộ chỉ thị sinh học phục vụ quan trắc môi trường nước lưu vực sông và áp dụng thử nghiệm bộ chỉ thị sinh học cho lưu vực sông Nhuệ- Đáy. Các nghiên cứu nhằm xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường, xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm môi trường và công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường phù hợp điều kiện Việt Nam cũng đã được triển khai và đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận.
 
Các hoạt động khoa học và công nghệ đã góp phần nâng cao chất lượng quan trắc, truyền tin và dự báo khí tượng thủy văn và ứng phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt là nâng cao chất lượng và thời lượng dự báo khí tượng thủy văn, thời tiết, dự báo bão, lũ, lũ quét, hạn hán, sóng thần; ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất quy định lại cấp báo động lũ trên các sông chính của Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở nước ta; cung cấp cơ sở cho việc lồng ghép các nguyên tắc quản lý tổng hợp đới bờ vào việc lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển; xác định ranh giới và phân cấp quản lý biển và hải đảo.
 
Từ năm 2011 đến nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện Chương trình “Khoa học và công nghệ phục vụ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu”, mã số KHCN-BĐKH/11-15, hiện đang triển khai thực hiện Chương trình khoa học và công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trường giai đoạn 2016-2020, mã số KHCN BĐKH/16-20 Thực hiện. Kết quả nghiên cứu của 02 Chương trình này cung cấp các luận cứ khoa học để thưc hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu  theo Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ.
 
 

Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ XX: “40 năm nghiên cứu Khí tượng Thủy văn, Môi trường, BĐKH phục vụ đời sống và xây dựng chính sách” tháng 3/2017

 

Nghiên cứu áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trong thực tiễn quản lý nhà nước và trong công tác điều tra cơ bản về tài nguyên môi trường 
 
Trong 15 năm qua, các hoạt động nghiên cứu áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trong thực tiễn quản lý nhà nước và trong công tác điều tra cơ bản về tài nguyên môi trường đã được chú ý đầu tư, khuyến khích phát triển ở tất cả các lĩnh vực của Ngành.
 
Một số đề tài, dự án nghiên cứu phát triển có kết quả tốt đã được đăng ký bản quyền tại Cục Sở hữu trí tuệ, một số sản phẩm có thể kể đến là: Trạm khí tượng tự động và hệ thống trạm khí tượng tự động đã đăng ký bản quyền về thiết kế, công nghệ, phần mềm và nhãn hiệu hàng hóa; Thiết bị đo mưa tự động và hệ thống trạm đo mưa tự động đã đăng ký bản quyền về thiết kế, công nghệ, phần mềm và nhãn hiệu hàng hóa; Đăng ký bản quyền phần mềm đối với phần mềm Hệ thống thông tin tích hợp về đất đai và môi trường - ELIS. Tất cả các đề, tài dự án cấp nhà nước, cấp bộ sau khi nghiệm thu đã được đăng ký kết quả tại Bộ Khoa học và Công nghệ.
 
 
Hội thảo Khoa học công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tháng 9/2015
 
 
Một số kết quả tiêu biểu trong nghiên cứu áp dụng tiến bộ KH&CN Ngành TN&MT
 
- Nghiên cứu làm chủ thiết kế, vận hành và khai thác hiệu quả Trạm thu ảnh vệ tinh thuộc Hệ thống giám sát tài nguyên thiên nhiên môi trường tại Việt Nam; giám sát ô nhiễm môi trường bằng công nghệ viễn thám; giám sát tình hình khai thác sử dụng tài nguyên nước ngoài biên giới; giám sát tài nguyên và môi trường biển và hải đảo bằng công nghệ viễn thám; thành lập và hiện chỉnh bản đồ địa hình, đặc biệt là ứng dụng ảnh vệ tinh độ phân giải siêu cao để thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ lớn; ứng dụng công nghệ viễn thám trong kiểm kê tài nguyên đất, kiểm kê rừng, giám sát tai biến thiên nhiên, tràn dầu, lũ lụt và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu; 
 
- Xây dựng mô hình đăng ký đất đai hiện đại, hoàn thiện công nghệ xây dựng các hệ thống thông tin đa mục tiêu về đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; 
 
- Nghiên cứu và thử nghiệm thành công nghệ LODG (Locally Optimized Diferential GPS), hệ thống thiết bị quét laser bề mặt đất (LiDAR) và máy chụp ảnh số bề mặt đất (DMC) trong công tác đo đạc địa chính, thành lập bản đồ địa hình; 
 
- Áp dụng thành công thiết bị đo trọng lực tuyệt đối laser rơi tự do trong việc xây dựng hệ thống trọng lực quốc gia; 
 
- Ứng dụng Mô hình toán thủy văn và mô hình tối ưu để xây dựng Atlas lưu vực sông Việt Nam; 
 
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong việc xây dựng quy trình, nội dung của quy hoạch tài nguyên nước; vận hành liên hồ chứa; xác định dòng chảy tối thiểu cho các dòng chính sông; atlas lưu vực sông Việt Nam; phương thức quản lý tổng hợp hồ chứa thủy lợi, thủy điện; 
 
- Nghiên cứu, chuyển giao công nghệ về điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất; quy trình đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải vào nguồn nước; kết quả nghiên cứu, đánh giá thực trạng ô nhiễm asen trong nguồn nước; chuyển giao mô hình xử lý asen trong nguồn nước quy mô hộ gia đình; hoàn thiện quy trình và mạng lưới quan trắc nước dưới đất; 
 
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ điện toán lưới (Grid Computing) và máy tính hiệu năng cao cho các cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường; 
 
- Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu, thử nghiệm các phương pháp mới, cải tiến kỹ thuật, xây dựng các quy trình công nghệ tìm kiếm khoáng sản, nước ngầm, nghiên cứu tai biến địa chất và điều kiện địa chất công trình; nâng cao hiệu quả thăm dò của các thiết bị hiện có như: xử lý, phân tích tài liệu địa chấn phản xạ nồng độ phân giải cao để xây dựng một số phân vị địa chấn địa tầng chuẩn phục vụ công tác lập bản đồ tướng địa chất, xác lập các đặc trưng tham số dị thường địa vật lý của các đối tượng quặng, đất đá, nước ngầm, đứt gãy kiến tạo ở Việt Nam để phát hiện, định vị các đối tượng và dự báo triển vọng khoáng sản theo tài liệu địa vật lý; 
 
- Định lượng các chất ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất phục vụ điều tra đánh giá môi trường; áp dụng các công cụ tính toán hiện đại nhằm mô phỏng, dự báo ô nhiễm và xác định nguồn gây ô nhiễm các con sông/ đoạn sông cho hạ lưu sông Sài Gòn - Đồng Nai; 
 
- Áp dụng các phương pháp đánh giá tính tổn thương nhằm đề xuất các giải pháp quản lý, đảm bảo sự phát triển bền vững của Vùng biển Việt Nam.
 
Nhiều công nghệ hiện đại đã được chuyển giao và ứng dụng phục vụ công tác quản lý nhà nước và điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường các cấp, từ trung ương đến  địa phương, như: 
 
- Xây dựng hoàn thiện và chuyển giao cho các Sở Tài nguyên và Môi trường công nghệ và kỹ thuật sử dụng ảnh vệ tinh để kiểm kê đất đai năm 2010; Chuyển giao công nghệ và kỹ thuật sử dụng ảnh vệ tinh để kiểm kê rừng cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; chuyển giao công nghệ vận hành trạm thu ảnh vệ tinh cho Tổng cục II, Bộ Quốc phòng, Tổng cục V, Bộ Công an; 
 
- Chế tạo nguồn phát của phương pháp địa chấn để xác định cấu trúc địa chất đến độ sâu 400m ở khu vực biển Việt Nam; chế tạo máy từ khảo sát địa chất khoáng sản biển; cải tiến tổ hợp máy địa chấn phân giải cao để khảo sát địa chất trên mặt đất và các vùng bị ngập nước (trên biển, sông, hồ…); chế tạo và thử nghiệm máy đo phổ gamma; áp dụng thành công công nghệ khoan ống mẫu luồn; thiết kế, chế tạo, ứng dụng thử nghiệm bộ giàn khoan địa chất biển nông, phục vụ kịp thời công tác thu thập mẫu địa chất, khoáng sản, đánh giá tài nguyên, môi trường biển; 
 
- Áp dụng công nghệ đo địa hình đáy biển bằng máy đo sâu hồi âm đa tia; công nghệ đo địa chấn nông độ phân giải cao; quy trình vận hành các trạm Rada biển; 
 
- Ứng dụng các máy tính hiệu năng cao phục vụ công tác dự báo thời tiết; 
 
- Xây dựng và sử dụng hệ thống máy tính ảo hóa, điện toán đám mây nâng cao hiệu quả sử dụng, khai thác các hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin; các giải pháp về an ninh, an toàn, bảo mật thông tin cho dữ liệu số đảm bảo tính an toàn cho các hệ thống công nghệ thông tin trong toàn ngành; 
 
- Nghiên cứu phương pháp và xây dựng phần mềm GUST xử lý các dữ liệu đo GPS/GLONASS; phần mềm LUB quy hoạch sử dụng đất tự động; phần mềm ECME-GPS đánh giá và phân tích các thành phần chuyển dịch của vỏ Trái đất bằng công nghệ GPS; 
 
- Tổ chức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong xử lý số liệu khí tượng bề mặt, số liệu thủy văn vùng sông không ảnh hưởng triều, sử dụng số liệu vệ tinh trong dự báo, cảnh báo thiên tai bão lũ cho các Đài Khí tượng thủy văn Khu vực và các Trung tâm Dự báo của tỉnh/thành phố; Xây dựng, lắp đặt, chuyển giao kỹ thuật quan trắc khí tượng, thủy văn và môi trường tự động cho các địa phương; 
 
- Nhiều tiến bộ kỹ thuật của thế giới về dự báo và quan trắc khí tượng thủy văn đã được tiếp nhận và cải tiến cho Việt Nam và chuyển giao cho các cơ quan và các địa phương. Các kết quả này đã góp phần nâng cao năng lực dự báo và điều tra cơ bản cho toàn ngành, đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng và mở rộng thời gian dự báo bão, lũ, hạn hán, đưa ra các sản phẩm mới như cảnh báo nguy cơ sóng thần. 
 
- Đã chuyển giao các giải pháp công nghệ thông tin, nhiều phần mềm ứng dụng phục vụ quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ tài nguyên và môi trường trong toàn ngành như Vilis, Elis, Maptrans, TMV.CADS... 
 
- Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành các quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông miền Trung và Tây Nguyên từ công tác nghiên cứu và đề xuất phương thức vận hành quy trình liên hồ giảm lũ cho hạ du dựa vào bản tin dự báo bão, lũ tránh việc quy định các hồ phải dành dung tích phòng lũ cho cả mùa lũ làm giảm hiệu ích về điện năng (trong khi các hồ không có nhiệm vụ phòng, chống lũ) để điều hành liên hồ đã mang lại lợi ích to lớn về kinh tế trong khi vẫn đảm bảo được hiệu quả giảm lũ cho hạ du.
 
- Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, mà Việt Nam đã ký kết nhiều Điều ước quốc tế song phương và đa phương cụ thể đối với quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu là vấn đề luôn được các đơn vị trong ngành chú trọng. Việc nghiên cứu ứng dụng, phát triển phần mềm nguồn mở cũng đã được quan tâm nhằm giải quyết vấn đề chống vi phạm bản quyền phần mềm và giảm kinh phí dành cho việc mua bản quyền phần mềm. 
 
 
 
 
Góp phần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của ngành tài nguyên và môi trường
 
Các quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá, Luật Sở hữu trí tuệ đã được tổ chức triển khai, phổ biến. Bộ đã đầu tư đáng kể cho công tác tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Đến nay các lĩnh vực đã xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương đối hoàn chỉnh. 
 
Sau 15 năm, hệ thống Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật, quy định, quy phạm trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã dần hoàn thiện làm cơ sở để xây dựng định mức kinh tế, kỹ thuật, phục vụ công tác điều tra cơ bản, quản lý về tài nguyên và môi trường, đáp ứng yêu của ngành tài nguyên và môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt, Bộ quan tâm đầu tư xây dựng và duy trì hoạt động của các Trung tâm kiểm định thuộc Bộ, nhằm bảo đảm chất lượng kiểm định cho hàng trăm phương tiện đo được áp dụng cho các lĩnh vực quản lý của Bộ, góp phần đảm bảo đo lường học cho công tác điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường. Đến nay, Bộ đã xây dựng và thường xuyên duy trì hoạt động của 11 phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn ISO 17025. Bộ cũng đã thành lập hệ thống TBT (Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Bộ Tài nguyên và Môi trường và tại các đơn vị quản lý nhà nước chuyên ngành. Đây là đầu mối thông tin quan trọng giúp ngành tài nguyên và môi trường trong quá trình hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới. Bên cạnh đó, Bộ và các đơn vị trực thuộc Bộ cũng rất quan tâm tới việc xây dựng kế hoạch, triển khai xây dựng, áp dụng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động quản lý của cơ quan, đơn vị.
 
Những kết quả đạt được trong giai đoạn vừa qua là tiền đề để thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ của Ngành tài nguyên và môi trường trong giai đoạn tới, bảo đảm phát huy vai trò quan trọng của Ngành trong hệ thống các ngành kinh tế - kỹ thuật, đồng thời tiếp tục có những đóng góp để thực hiện Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020 và Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01 tháng 11 năm 2012 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
 

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   capcha_img