Chính sách, pháp luật đất đai không ngừng được hoàn thiện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, 21/09/2020 10:11 GMT+7
Trong quá trình hơn 70 năm xây dựng và phát triển, Ngành Quản lý đất đai nói chung, Tổng cục Quản lý đất đai nói riêng luôn từng bước lớn mạnh và không ngừng phát triển và có nhiều đóng góp to lớn. Trong đó, nổi bật nhất là Tổng cục Quản lý đất đai đã tham mưu cho cấp có thẩm quyền ban hành và thực thi nhiều chủ trương, chính sách quan trọng về đất đai, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước.

 

Luật Đất đai đầu tiên được ban hành từ năm 1987 và không ngừng được hoàn thiện

Luật Đất đai đầu tiên của nước ta được ban hành vào năm 1987, ghi nhận dấu mốc quan trọng của hệ thống pháp luật về đất đai với điểm đột phá là chủ trương giao đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định lâu dài. Với chủ trương này đã góp phần đưa nước ta từ chỗ thiếu đói phải nhập khẩu về lương thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới. Ngoài ra, Luật Đất đai năm 1987 có các quy định để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc giao đất phục vụ xây dựng đô thị, khu dân cư nông thôn và phát triển khu công nghiệp.

Sau 05 năm, với yêu cầu phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa và xây dựng hạ tầng cho kinh tế công nghiệp và dịch vụ, năm 1993, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai lần thứ hai (Luật Đất đai năm 1993). Luật Đất đai năm 1993 đã tập trung chủ yếu vào việc điều chỉnh các quan hệ đất đai nhằm kiến tạo nền sản xuất hàng hóa, phát triển công nghiệp. Thông qua quy định Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, đất ở với 05 quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, Luật Đất đai năm 1993 đã đảm bảo về mặt pháp lý cho việc thiết lập tính tự chủ, cũng như quyền lợi của người sử dụng đất. Đặc biệt là Luật Đất đai năm 1993 đã khẳng định đất có giá và giá đất do Nhà nước quy định để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất.

Tiếp theo đó, năm 1998 và năm 2001, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính để thu hút đầu tư cho phát triển, Luật Đất đai tiếp tục được sửa đổi, bổ sung theo hướng hoàn thiện hơn các quyền và nghĩa vụ của tổ chức sử dụng đất và đẩy mạnh việc phân cấp trong quản lý đất đai cho chính quyền địa phương.

 

Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải trao Huân chương Độc lập hạng Ba cho Tổng cục Quản lý đất đai

 

Thời điểm bước vào thiên niên kỷ mới, trước yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật về đất đai nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trên cơ sở tổng kết 10 năm thi hành Luật Đất đai năm 1993, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai lần thứ ba (Luật Đất đai năm 2003). Tiếp đó, năm 2009, Luật Đất đai tiếp tục có sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư nước ngoài sở hữu nhà tại Việt Nam và việc thống nhất cấp một loại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Sau gần mười năm triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2003, để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập sâu rộng trong tình hình mới, việc tổng kết thi hành Luật đất đai năm 2003 và sửa đổi Luật Đất đai được đặt ra là nhu cầu rất cấp thiết.

Qua tổng kết, các tỉnh uỷ, thành uỷ và đảng uỷ, đảng đoàn trực thuộc Trung ương đã đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm; là cơ sở để đề xuất một số chủ trương và giải pháp tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Để kịp thời giải quyết các vướng mắc, bất cập về quản lý, thi hành Luật đất đai 2003 tại địa phương, Tổng cục được giao chủ trì xây dựng và ngày 13 tháng 8 năm 2009, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP được Chính phủ ban hành đã tạo nền tảng pháp lý cho công tác quản lý và sử dụng đất đai, góp phần giải quyết về căn bản những vấn đề vướng mắc trong quản lý đất đai như quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá đất; bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư:

Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến Luật đầu tư xây dựng cơ bản và Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là một bước tiến dài, đặc biệt quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính với mục tiêu hướng tới người dân và cơ sở trong lĩnh vực quản lý đất đai và đầu tư xây dựng; tạo tiền đề cho việc thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển.

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm việc với Bộ Tài nguyên và Môi trường về đẩy mạnh cải cách TTHC trong lĩnh vực quản lý đất đai năm 2014

 

Luật Đất đai 2013 được ban hành với nhiều đổi mới quan trọng trong chính sách, pháp luật đất đai

Sau đó, căn cứ báo cáo tổng kết thi hành Luật Đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai, Tổng cục đã chủ động phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng dự thảo và tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật đất đai (sửa đổi). Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá 13, Luật đất đai (sửa đổi) đã được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu những đổi mới về chính sách, pháp luật đất đai nhằm một mặt bảo đảm giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước, một mặt đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh của đất nước trong thời kỳ mới.

Có thể nói việc ban hành Luật Đất đai năm 2013 đã được tiến hành một cách công phu, nghiêm túc và căn bản trên cơ sở thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, nội dung của Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; đã thể hiện được ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân; đã nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm quản lý đất đai của các nước tiên tiến, đồng thời quan tâm giải quyết những tồn tại, bất cập đã được nhận diện thông qua quá trình tổng kết thi hành trên thực tiễn.

Luật này đã được xây dựng cụ thể, chi tiết hơn với nhiều nội dung đổi mới quan trọng sau đây: (i) Quy định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của Nhà nước và những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. (ii) Chú trọng đến đánh giá chất lượng đất đai, thay đổi phương pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý và sử dụng đất. (iii) Tăng cường hơn việc vận hành các quan hệ đất đai theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từng bước chuyển đổi phương thức quản lý từ các biện pháp hành chính đơn thuân sang các biện pháp kinh tế. (iv) Kiểm soát chặt chẽ hơn đối với công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. (v) Tăng cường hơn công khai, minh bạch và dân chủ trong quản lý, sử dụng đất; góp phần phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và làm giảm các khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai. (vi) Thiết lập sự bình đẳng trong việc tiếp cận đất đai, thực hiện quyền và nghĩa vụ sử dụng đất giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài cho phù hợp với yêu cầu hội nhập và thu hút đầu tư. (vii) Tiếp tục hoàn thiện chính sách sử dụng đất nông nghiệp nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; (viii) Quan tâm hơn đến việc đảm bảo quyền sử dụng đất cho nhóm người dễ bị tổn thương như phụ nữ, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số.

 

Hội nghị giải pháp tích tụ, tập trung đất đai phục vụ nông nghiệp quy mô lớn, công nghiệp hóa

 

Để triển khai thi hành Luật Đất đai 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao Tổng cục chủ trì xây dựng 08 Nghị định hướng dẫn thi hành. Dự thảo phần lớn các Nghị định được xây dựng song song, đồng thời với dự thảo Luật Đất đai năm 2013; trình Chính phủ ban hành đảm bảo thời điểm có hiệu lực của các Nghị định trùng với thời điểm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành. Có thể nói đây là lần đầu tiên trong lịch sử xây dựng chính sách, pháp luật về đất đai mà thời điểm có hiệu lực của Luật Đất đai trùng với thời điểm có hiệu lực của các văn bản hướng dẫn thi hành đã loại bỏ được khoảng trống pháp luật như các thời kỳ trước đây.

Tổng cục đã tích cực, chủ trì xây dựng và phối hợp với các đơn vị có liên quan để trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành 36 Thông tư và Thông tư liên tịch để quy định chi tiết và hướng dẫn tổ chức thực hiện Luật Đất đai và các Nghị định của Chính phủ. Các Thông tư được ban hành trong các năm qua đã kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ vướng mắc cho các địa phương về công tác quản lý và sử dụng đất.

Nhìn lại chặng đường đã qua, có thể nói, với sự nỗ lực của nhiều thế hệ cán bộ, công chức, viên chức, Ngành Quản lý đất đai đã tham mưu cho Đảng, Nhà nước ban hành nhiều cơ chế, chính sách về đất đai quan trọng, phù hợp và đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

Trong thời gian tới, mục tiêu đặt ra đó là phải tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai cho phù hợp hơn với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường hơn công khai, minh bạch, dân chủ trong quản lý, sử dụng đất; đẩy mạnh cải cách hành chính; xã hội hoá và nâng cao chất lượng hoạt động của các dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai; đồng thời hoàn thiện các công cụ quản lý nhà nước về đất đai theo hướng hiện đại.

 

Cục đăng ký đất đai, Vụ chính sách và pháp chế, Vụ tổ chức cán bộ thuộc Tổng cục Quản lý đất đai nhận Cờ thi đua của Bộ

 

Các thành tích nổi bật khác của ngành quản lý đất đai

Cùng với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai, ngành quản lý đất đai trong suốt chặng đường phát triển của mình đã đạt được nhiều kết quả khác trong công tác quản lý đất đai, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Về đo đạc, đăng ký, cấp giấy chứng nhận, sự hình thành hệ thống Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, cùng với sự quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ kinh phí của Trung ương, sự quan tâm đầu tư kinh phí của các địa phương mà việc đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được đẩy mạnh, đặc biệt là trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, góp phần giải quyết những vấn đề tồn tại trong quản lý và sử dụng đất; tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền; giải quyết có hiệu quả tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất; nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật đất đai của người dân.

Về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, Tổng cục đã xây dựng được bộ hồ sơ và cơ sở dữ liệu đầy đủ về diện tích từng loại đất, từng loại đối tượng, được thể hiện trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất dạng số của 4 cấp hành chính xã, huyện, tỉnh, cả nước (gồm 11076 xã, 693 huyện và 63 tỉnh). Phục vụ kịp thời, có hiệu quả trong quản lý đất đai, xây dựng chiến lược, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, của các ngành và của từng địa phương đến năm 2020.  Việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai phục vụ đa mục đích là mục tiêu nhằm cải cách thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong việc tiếp cận các thông tin và dịch vụ công trọng lĩnh vực đất đai một cách nhanh chóng.

Công tác thống kê, kiểm kê đất đai được thực hiện định kỳ hàng năm và 05 năm theo quy định của Luật Đất đai, chất lượng số liệu thống kê đất đai của các địa phương ngày các được được nâng cao hơn so với các kỳ thống kê đất đai trước đai. Trên cơ sở chất lượng tài liệu, tư liệu bản đồ được sử dụng cho công tác thống kê diện tích đất đai có độ chính xác cao, thể hiện được tính hệ thống trong quản lý nguồn dữ liệu đất đai của cả nước, là cơ sở để cho các ngành lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Đặc biệt kết quả thống kê diện tích đất đai còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và là cơ sở để hoạch định các chính sách về quản lý và sử dụng đất.

 

Hợp tác với KOICA, Hàn Quốc trong dự án “Tăng cường năng lực định giá đất và hệ thống thông tin giá đất trên VIETLIS”

 

Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, ngay từ thời gian đầu thành lập Tổng cục đã nghiêm túc thực hiện và kịp thời kiến nghị công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nước nói riêng theo Quyết định 391/QĐ-TTg ngày 18/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đồng thời cũng đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Việc lập, xét duyệt và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp dần đi vào nề nếp, tuân thủ các nguyên tắc, căn cứ, trình tự, nội dung mà pháp luật đất đai quy định. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 được triển khai đồng bộ theo 04 cấp hành chính (quốc gia, cấp tỉnh, huyện và xã). Tổng cục đã hoàn thành báo cáo và hồ sơ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) cấp quốc gia và đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ thứ 2, Quốc hội XIII. Việc thông qua Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) cấp quốc gia có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để các Bộ, ngành và địa phương triển khai quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2011 – 2020; góp phần làm thay đổi diện mạo của nông thôn mới, quỹ đất sản xuất nông nghiệp đã được bố trí một cách hợp lý theo nguyên tắc bảo vệ quỹ đất trồng lúa, đảm bảo mục tiêu cung cấp đủ lương thực trong nước, có dự trữ chiến lược và xuất khẩu, hình thành các vùng chuyên canh phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của từng vùng gắn liền với công nghiệp chế biến; cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ môi trường. Công tác quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ngày càng đi vào thực chất, góp phần tích cực vào việc sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và làm cho việc sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả, tiết kiệm hơn.

Về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất, thực hiện việc giao đất, cho thuê đất đã góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư và bước đầu phát huy nguồn lực của đất đai trong phát triển của đất nước; từng bước khắc phục tình trạng giao đất, cho thuê đất trái thẩm quyền, không đúng đối tượng.

Về giá đất, Công tác xây dựng và ban hành bảng giá đất hàng năm (nay là 05 năm theo quy định của Luật Đất đai năm 2013) được tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ, nghiêm túc theo đúng tiến độ, quy định của pháp luật về đất đai. Chính sách về giá đất thời gian qua đã liên tục được điều chỉnh, hoàn thiện theo hướng tiếp cận cơ chế thị trường, đã góp phần tạo chuyển biến tích cực trong quản lý nhà nước về đất đai, từng bước phát huy nguồn lực đất đai để phát triển kinh tế - xã hội và là cơ sở để từng bước giải quyết tốt hơn quyền lợi của người có đất bị thu hồi, đồng thời góp phần hạn chế tham nhũng trong quản lý, sử dụng đất.

Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, được các địa phương quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện công khai, dân chủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đặc biệt là từ khi Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân có đất bị thu hồi được đảm bảo, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án nhất là các dự án trọng điểm như Quốc lộ 1A, dự án đường Hồ Chí Minh, góp phần ổn định kinh tế, xã hội.

Trải qua hơn 70 năm xây dựng và phát triển, Ngành đã có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh hiện nay cũng như giai đoạn tới, quá trình toàn cầu hóa vẫn đang tiếp tục diễn ra rộng khắp và toàn diện trên toàn thế giới; khoa học công nghệ có sự phát triển vượt bậc, làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực kinh tế, xã hội của tất cả các quốc gia; trong khi nguồn tài nguyên đất đai đang có xu hướng cạn kiệt, bị suy thoái, hủy hoại dưới tác động của tự nhiên và hoạt động của con người. Thêm vào đó là dân số tăng, nhu cầu lương thực tăng; sự phát triển công nghiệp, hạ tầng và đô thị càng ngày càng tăng, làm tăng nhu cầu sử dụng đất và đã tạo nên áp lực ngày càng cao đối với công tác quản lý và sử dụng đất đai. Chính điều này đã đặt ra nhu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế để từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý đất đai trong thời kỳ mới. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự đồng lòng của các cấp, của toàn ngành và sự nỗ lực của từng cá nhân trong bộ máy quản lý đất đai./.

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   capcha_img