Viễn thám Việt Nam: Khẳng định vai trò quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh.

Chủ nhật, 20/09/2020 19:37 GMT+7
Viễn thám chính thức hình thành ở Việt Nam vào đầu những năm 80 thế kỷ trước, trải qua 37 năm xây dựng và phát triển, từ Trung tâm Viễn thám thuộc Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước (1980 - 1993), đến Trung tâm Viễn thám thuộc Tổng cục Địa chính (1994 – 2002); Trung tâm Viễn thám quốc gia trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường từ (2003 - 2012) và đến năm 2013 chính thức thành Cục Viễn thám quốc gia - trở thành một tổ chức quản lý nhà nước trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý và thực thi các hoạt động về viễn thám phục vụ giám sát tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai, phát triển kinh tế xã hội và an ninh, quốc phòng; thực hiện các dịch vụ về viễn thám theo quy định của pháp luật.

Những thành tựu nổi bật của ngành viễn thám gắn liền với từng giai đoạn phát triển của ngành.


Thời kỳ 1980 - 1993: Viễn thám bắt đầu khẳng định được vị thế trong lĩnh vực đo đạc bản đồ và tạo những bước đi vững chắc cho phát triển theo 3 trụ cột: xử lý, cung cấp ảnh; hiện chỉnh bản đồ địa hình;và thành lập các loại bản đồ chuyên đề

 

 
Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải thăm Trạm thu ảnh viễn thám của Việt Nam

 

Cuối năm 1980, Tổ Viễn thám trực thuộc Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước được thành lập với 04 cán bộ được điều động về từ các đơn vị khác. Công việc chuyên môn đầu tiên là nghiên cứu, sử dụng ảnh hàng không để hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 25.000 khu vực Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

 

Năm 1985, trước nhu cầu phát triển của công nghệ và sự lớn mạnh của Phòng Viễn thám, Trung tâm Viễn thám đã được thành lập hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp. Cơ cấu tổ chức gồm 2 phòng chức năng, 5 tổ sản xuất và nghiên cứu thử nghiệm với gần 40 cán bộ, trong đó có 2 tiến sỹ, 18 kỹ sư.

 

Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải cắt băng khánh thành Trạm thu ảnh vệ tinh Việt Nam

 

Các sản phẩm nổi bật thời kỳ này phải kể đến: Hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000, 1:50.000 cho một số địa phương; xây dựng bộ bản đồ hiện trạng sử dụng đất toàn quốc tỷ lệ 1:250.000. Cung cấp kịp thời bản đồ nền và trực tiếp tham gia lập hồ sơ địa giới hành chính 364/CT (được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen cho 1 tập thể và 1 cá nhân). Thành lập bộ bản đồ chuyên đề phục vụ khai thác lãnh thổ và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho tỉnh Thanh Hóa. Bên cạnh đó, cũng đã hoàn thành 2 đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước. 

 

Thời kỳ 1994 - 2002: Đánh dấu việc hoàn thiện công nghệ hiện chỉnh bản đồ địa hình và tiến hành hiện chỉnh gần 300 mảnh bản đồ tỉ lệ 1/50.000, 487 mảnh tỉ lệ 1/25.000; công nghệ viễn thám được sử dụng rộng rãi hơn trong thành lập bản đồ địa hình, thành lập bản đồ chuyên đề; đẩy mạnh việc xử lý, cung ứng các loại hình tư liệu viễn thám cho các cơ quan, viện nghiên cứu, các trường đại học của nhiều bộ, ngành và địa phương. 

 

Năm 1994, Tổng Cục Địa chính được thành lập theo Nghị định số 12/CP ngày 22 thánh 02 năm 1994, Trung tâm Viễn thám quốc gia là đơn vị trưc thuộc Tổng cục Địa chính. Đầu thời kỳ này, Trung tâm hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp sau chuyển sang đơn vị sự nghiệp có thu. Cơ cấu tổ chức gồm ban lãnh đạo Trung tâm, 3 phòng chức năng, 5 tổ nghiên cứu và triển khai sản xuất với hơn 70 cán bộ, trong đó có 2 tiến sỹ, 2 thạc sỹ và hơn 50 kỹ sư/cử nhân.

 

Thời kỳ này, Công nghệ viễn thám đã được Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thành công trong thành lập bản đồ chuyên đề. Các công trình nổi bật như thành lập bản đồ biến động lòng sông, cửa sông, bờ biển trên nhiều vùng khác nhau ở các tỉ lệ 1/25.000, 1/50.000, 1/100.000; bản đồ biến động rừng ngập mặn tỉ lệ 1/100.000 trên toàn dải ven biển; bản đồ đất ngập nước tỉ lệ 1/250.000 phủ trùm toàn quốc, bản đồ kiểm kê và đánh giá tiềm năng nuôi trồng thủy sản ven bờ tỉ lệ 1/100.000…, những công trình này đã đáp ứng nhu cầu của các cơ quan và được đánh giá cao về chất lượng. 

 

Đoàn công tác của Quốc Hội thăm quan và làm việc tại Trạm thu ảnh viễn thám, Cục Viễn thám quốc gia

 

Thời kỳ 2003-2012: Mở rộng phạm vi hoạt động, phục vụ cho các lĩnh vực trong và ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường.

 

Năm 2002, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tại Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Viễn thám được thành lập lại, trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường; tiếp đó trở thành Trung tâm Viễn thám quốc gia theo quy định tại Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04/3/2008. Đây là sự kiện lớn, đánh dấu sự phát triển ngày càng lớn mạnh của đơn vị.

 

Trung tâm Viễn thám quốc gia với cơ cấu gồm: Ban giám đốc, 05 Phòng chức năng và 08 Trung tâm trực thuộc với 290 viên chức và người lao động, trong đó có 06 tiến sĩ, 50 thạc sỹ và hơn 200 kỹ sư/cử nhân.

 

Thành tích nổi bất trong thực hiện nhiệm vụ chính trị thời kỳ này đó là mở rộng phạm vi hoạt động để phục vụ cho các lĩnh vực trong và ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường, bao gồm các lĩnh vực như quản lý đất đai; môi trường; biển và hải; đo đạc bản đồ; lâm nghiệp; thủy văn,… Đồng thời, dữ liệu thu nhận tại Trạm thu đã được sử dụng trong nhiều bộ ngành và địa phương như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ủy ban Tìm kiếm cứu nạn, hàng chục tỉnh thành phố, Các viện nghiên cứu (Viện Địa lý, Viện Công nghệ vũ trụ, Viện Điều tra quy hoạch rừng, Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ…); các trường đại học (Đại Học Mỏ địa Chất, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Tài nguyên và Môi trường…). 

 

Bộ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Minh Quang thăm quan gian hàng của Cục Viễn thám quốc gia tại Triển lãm "Thành tựu kinh tế - xã hội năm 2015"

 

Thời kỳ từ năm 2013 đến nay: Chính thức trở thành một đơn vị quản lý nhà nước trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Viễn thám quốc gia nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao, đặc biệt tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ viễn thám trong giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và thiên tai.

 

Ngày 04 tháng 3 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 21/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Theo Nghị định này, Cục viễn thám quốc gia được thành lập là một trong những đơn vị quản lý nhà nước trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.  

 

Quán triệt công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu, Cục Viễn thám quốc gia luôn khuyến khích các công chức, viên chức thuộc Cục tham gia đề xuất, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực viễn thám. Trong thời gian qua, Cục đã xây dựng, trình ban hành được 10 văn bản quản lý nhà nước trong đó 02 văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng trình Bộ trưởng ban hành 05 Thông tư; phối hợp xây dựng 01 Thông tư về phí khai thác và sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh; xây dựng Quy chế phối hợp hoạt động trong quản lý vận hành và khai thác hệ thống VNREDSat-1. Bên cạnh đó, các dự án, nhiệm vụ chuyên môn của Cục Viễn thám quốc gia đều có chất lượng tốt, có ý nghĩa to lớn trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường và được Bộ Tài nguyên và Môi trường đánh giá cao. Cụ thể, kết quả dự án “Giám sát tài nguyên môi trường biển, hải đảo bằng công nghệ viễn thám được bình chọn là sự kiện nổi bật năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

 

Công nghệ viễn thám hỗ trợ quản lý, giám sát tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, phòng chống thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu

 

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển, ngành viễn thám không ngừng phát triển và trở thành một lĩnh vực công nghệ cao, phát triển nhanh bắt kịp trình độ phát triển của một số nước trong khu vực và thế giới. Đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chiến lược nghiên cứu ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020 và việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ viễn thám đã đạt được các mốc quan trọng sau:

 

Năm 2007, Việt Nam đã lắp đặt và đưa vào vận hành Trạm thu ảnh viễn thám đầu tiên do Cục Viễn thám quốc gia - Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý. Trạm thu ảnh viễn thám với thiết kế đa đầu thu (Multi-sensor) có thể thu nhận tín hiệu từ nhiều vệ tinh sử dụng cùng một hệ thống phần cứng. Trạm thu ảnh viễn thám được thiết kế ban đầu thu nhận và xử lý tín hiệu từ các vệ tinh viễn thám gồm SPOT2, SPOT4, SPOT5, ENVISAT ASAR và ENVISAT MERIS phục vụ cho giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường của Việt Nam. Trạm thu có thể thu nhận dữ liệu trong vòng tròn có bán kính 2500km tính từ vị trí lắp đặt Trạm thu hay nói cách khác bên cạnh việc thu nhận dữ liệu ảnh các loại trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, Trạm cũng thu nhận một số lượng lớn dữ liệu viễn thám chụp ngoài lãnh thổ Việt Nam.

 

Năm 2013, Việt Nam đưa vệ tinh viễn thám đầu tiên VNREDSat-1 lên quỹ đạo. Trạm thu viễn thám đã được nâng cấp thành công thu nhận dữ liệu từ vệ tinh này. Việc thu nhận dữ liệu từ vệ tinh VNREDSat-1 đã cho phép chúng ta chủ động hơn trong việc quan trắc, giám sát bằng viễn thám phục vụ giám sát tài nguyên, môi trường, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng. Thu nhận thành công ảnh VNREDSat-1 do Việt Nam phóng đã được bình chọn là sự kiện nổi bật năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Việc có một Trạm thu ảnh vệ tinh là một bước đột phá, thúc đẩy sự phát triển ứng dụng công nghệ viễn thám ở nước ta, là bước khởi đầu quan trọng, đặt nền móng cơ bản cho việc ứng dụng và phát triển công nghệ viễn thám ở tầm quốc gia - kể từ đây, Việt Nam trở thành nước thứ 5 ở Đông Nam Á có Trạm Thu ảnh vệ tinh. Trạm thu đã cung cấp một khối lượng lớn ảnh viễn thám giải quyết các vấn đề về quản lý và giám sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường, theo dõi, kiểm kê đất đai, giám sát diện tích rừng, ứng dụng trong công tác địa chất, giám sát môi trường, điều tra tài nguyên đới bờ và biển, hải đảo, theo dõi thiên tai và phục vụ giám sát tác động của biến đổi khí hậu…Dữ liệu thu nhận tại trạm thu ảnh viễn thám đã được ứng dụng, khai thác tại nhiều bộ ngành và địa phương như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ủy ban Tìm kiếm cứu nạn, hàng chục tỉnh thành phố, Các viện nghiên cứu (Viện Địa lý, Viện Công nghệ vũ trụ, Viện Điều tra quy hoạch rừng, Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ…); các trường đại học (Đại Học Mỏ địa Chất, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Tài nguyên và Môi trường…).   

       

Hình minh họa hoạt động của VNREDSat-1

 

Là cơ quan quản lý nhà nước về viễn thám, hiện nay Cục Viễn thám quốc gia đã và đang triển khai thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường giao như: Xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển lĩnh vực viễn thám giai đoạn 2017-2025; xây dựng cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia; xây dựng các báo cáo giám sát thường xuyên và giám sát nhanh theo các đề án, dự án chuyên môn giám sát một số vùng biển, đảo trọng điểm xa bờ bằng công nghệ viễn thám phục vụ phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng, giám sát diễn biến vùng ô nhiễm nước thải khu công nghệp, khu đô thị vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; xây dựng hệ thống giám sát biến động bờ sông, bờ biển khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; thu nhận và xử lý dữ liệu viễn thám tại Trạm thu ảnh viễn thám VNREDSat1; thực hiện các đề án, dự án chuyên môn Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường giao (Hiện chỉnh BĐĐH quốc gia tỷ lệ 1/50.000 bằng ảnh viễn thám khu vực Biên giới Việt - Trung, Tây Bắc và khu vực Nghệ An - Thanh Hóa; giám sát xói lở bờ biển tại một số khu vực trọng điểm miền Trung bằng công nghệ viễn thám; kiểm kê quốc gia khí nhà kính năm 2016 trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) phục vụ xây dựng các báo cáo quốc gia và đóng góp của Việt Nam cho công ước khí hậu).

 

Để phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ viễn thám, hiện nay Cục Viễn thám quốc gia đang hợp tác với Cơ quan nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ triển khai xây dựng Trạm dò tìm, tiếp nhận dữ liệu và Trung tâm xử lý dữ liệu ảnh vệ tinh, dự án được ước tính sẽ hoàn thành trong 7 năm kể từ khi được phê duyệt (bao gồm 2 năm xây dựng công trình, lắp đặt thiết bị và 5 năm vận hành, khai thác Trạm).

 

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Cục Viễn thám quốc gia là hỗ trợ, hướng dẫn, tạo hành lang pháp lý để tăng cường công tác quản lý nhà nước về viễn thám tại địa phương. Đến nay, Cục đã triển khai một số nội dung sau: đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ viễn thám trong các hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở địa phương; tiếp tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực viễn thám, trong đó cần hướng dẫn và quy định rõ trách nhiệm trong ứng dụng và công tác quản lý nhà nước về viễn thám tại địa phương; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy định kỹ thuật về phát triển và ứng dụng công nghệ viễn thám phù hợp với từng lĩnh vực tài nguyên và môi trường đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về viễn thám; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý, khai thác, sử dụng công nghệ viễn thám trong giám sát, quản lý tài nguyên và môi trường cho cán bộ chuyên môn của các Sở; hỗ trợ địa phương trong xây dựng kế hoạch, đề án, dự án về viễn thám trong địa bàn; đầu tư kinh phí, triển khai các chương trình, đề án, dự án ứng dụng viễn thám tại địa phương để đẩy mạnh được việc ứng dụng công nghệ viễn thám và nâng cao được trình độ quản lý về lĩnh vực viễn thám tại địa phương; đầu tư trang thiết bị, cung cấp cơ sở dữ liệu, chuyển giao công nghệ viễn thám, hỗ trợ nghiệp vụ chuyên môn, tạo thuận lợi cho địa phương trong việc khai thác và sử dụng dữ liệu viễn thám; xây dựng cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia thống nhất với cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường cung cấp các dữ liệu ảnh viễn thám đã qua sử dụng, đa dạng hóa và làm phong phú nguồn dữ liệu trong cơ sở dữ liệu viễn thám tại địa phương.

 

Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu khoa học là động lực then chốt để phát triển lĩnh vực viễn thám. Các đề tài nghiên cứu khoa học của Cục đã góp phần: Xác lập các cơ sở khoa học thực tiễn phục vụ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành viễn thám, các quy chuẩn, tiêu chuẩn viễn thám; Nghiên cứu khoa học, công nghệ nhằm ứng dụng công nghệ tiên tiến trong việc phát triển cơ sở hạ tầng viễn thám, công nghệ quan trắc giám sát tài nguyên môi trương, thiên tai bằng công nghệ viễn thám.

 

Đoàn công tác Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thăm quan ăng ten thu tín hiệu vệ tinh viễn thám tại Cục Viễn thám quốc gia

 

Hệ thống cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia, siêu dữ liệu viễn thám đang được xây dựng và cập nhật cùng với việc xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới cung cấp dịch vụ công trực tuyến về dữ liệu viễn thám cho mọi tổ chức và cá nhân có nhu cầu sử dụng. Hạ tầng viễn thám cũng được hoàn thiện đồng bộ với quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường, trong đó sẽ đầu tư trang bị hai trung tâm thu nhận dữ liệu viễn thám từ vệ tinh tại Hà Nội và Bình Dương. Hệ thống truyền dẫn dữ liệu viễn thám cũng được hoàn thiện bảo đảm cung cấp và xử lý dữ liệu viễn thám kịp thời phục vụ công tác quản lý nhà nước và các trường hợp khẩn cấp như phòng tránh thiên tai, thảm họa hoặc các sự cố môi trường.

 

Phát triển và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ viễn thám, đưa công nghệ viễn thám thực sự trở thành công nghệ ứng dụng phục vụ đa ngành, đa lĩnh vực

 

Nhiệm vụ then chốt của ngành Viễn thám trong giai đoạn tiếp theo là phát triển và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ viễn thám, đưa công nghệ viễn thám thực sự trở thành công nghệ ứng dụng phục vụ đa ngành, đa lĩnh vực; tăng cường hợp tác trong và ngoài nước; liên kết và thực hiện xã hội hóa về ứng dụng công nghệ viễn thám. Giai đoạn từ nay đến năm 2020, ngành viễn thám sẽ tiếp tục khẳng định và nâng cao vai trò quan trọng trong các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng của đất nước. Trong đó, chú trọng việc xây dựng và hình thành chính sách quốc gia và khung pháp lý về ứng dụng và phát triển viễn thám, trước mắt xây dựng và hoàn thiện Nghị định về quản lý hoạt động viễn thám tạo hành lang pháp lý cho hoạt động viễn thám; hoàn thiện chiến lược phát triển viễn thám trong 20 năm tầm nhìn đến 30 năm; tăng cường đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ, bảo đảm ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực, tăng cường phối hợp hoạt động ứng dụng và phát triển viễn thám ở cấp Trung ương; từng bước kiện toàn về mặt tổ chức, cơ sở vật chất và năng lực chuyên môn của cơ quan quản lý nhà nước về viễn thám ở địa phương; … đẩy mạnh ứng dụng viễn thám phục vụ rộng rãi và thường xuyên cho nhu cầu của các Bộ, ngành, địa phương, các cơ sở của khu vực doanh nghiệp tư nhân. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý, khai thác, sử dụng công nghệ viễn thám trong giám sát, quản lý tài nguyên và môi trường cho cán bộ chuyên môn của các Sở trong cả nước.

 

Một trong những giải pháp để thực hiện các mục tiêu đề ra là chất lượng nguồn nhân lực, đến năm 2020 bảo đảm có được đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước am hiểu và nắm chắc nghiệp vụ quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương; xây dựng được đội ngũ chuyên gia, cán bộ kỹ thuật mạnh nắm bắt được các công nghệ tiên tiến hiện đại trên thế giới và nghiên cứu phát triển đáp ứng yêu cầu ứng dụng trong nước. Định hướng đến năm 2025, trên cơ sở kế thừa và phát huy hiệu quả các kết quả, thành tựu phát triển trong giai đoạn trước, hoàn thiện khung pháp lý cao nhất là xây dựng và trình Quốc hội ban hành Luật Viễn thám cùng với một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn thiện về viễn thám. Tiếp tục đầu tư và đổi mới công nghệ để trở thành nước dẫn đầu trong khu vực về ứng dụng công nghệ viễn thám.

 

Cùng với sự phát triển của Bộ Tài nguyên và Môi trường, lĩnh vực viễn thám không ngừng phát triển, ngành viễn thám đến nay đã cơ bản hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mở rộng quy mô và phạm vi nghiên cứu ứng dụng phục vụ giám sát tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai, phát triển kinh tế xã hội và an ninh, quốc phòng. Vai trò của viễn thám ngày càng được khẳng định trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung và ngành tài nguyên môi trường nói riêng.

           

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)
   capcha_img